MED-AID CÔNG MINH, INC
Saturday, 4/02/2012
 
Trang chủ
   

Thống kê
Tổng số mục tin: 540
Các bệnh ung thư: 32
Liên kết: 5
Thống kê truy cập:
   

Quảng cáo

LIÊN HỆ QUẢNG CÁO

Email: admin@tuvanungthu.com
Phone:(08) 3979 7907
   

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (UTBMTTTC) - www.tuvanungthu.com
Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (UTBMTTTC)
15:21:26 10/02/2009 - Lượt xem: 470
Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ lần đầu tiên được Foote và Stewart mô tả và đặt tên vào năm 1941

Ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ lần đầu tiên được Foote và

Stewart mô tả và đặt tên vào năm 1941 . Họ đã mô tả hầu hết đặc

điểm lâm sàng và bệnh học của bệnh bao gồm đặc tính của

UTBMTTTC không thể xác định được trên lâm sàng và đại thể.

ủTBMTTTC hay gặp nhiều ổ và hai bên. Thể này cũng hay phối

hợp với các thể ung thư khác như ung thư biểu mô ống và ống nhỏ.

UTBMTTTC'Chiếm khoảng 1-6% ung thư biểu mô vú và 30-50%

trong các ung thư xâm nhập.

 

Đại thể. Thường không rõ ràng tính chất ác tính trên đại thể

mà thường phối hợp với những tổn thương tăng sinh lành tính. ở

những tổn thương lan rộng, diện cắt qua mô vú có thể thấy những

hạt nhỏ không rõ rệt do các tiểu thùy bị giãn đủ nhìn thấy.

 

Vi thể. UTBMTI'TC phát triển từ các ống tận. Điển hình là các

tế bào u thay thế lớp biểu mô bình thường của nang tuyến và các

ống trong tiểu thùy. Các tế bào bất thường làm thay đổi cấu trúc

các tiểu thùy, làm cho các tiểu thùy giãn ra lớn hơn các tiểu thùy

của mô vú lành bên cạnh. Tuy nhiên, đường kính các tiểu thùy

khác nhau giữa các trường hợp. Sự phì đại của các tiểu thùy

không phải là tiêu chuẩn giúp cho chẩn đoán mà phải dựa vào đặc

điểm bất thường của tế bào học.
 

số lượng các tiểu thùy bị tổn thương cũng là một trong những

tiêu chuẩn chẩn đoán UTBMTTTC. Tuy nhiên, có bao nhiêu tiểu

thùy bị tổn thương là đủ cho chẩn đoán thì người ta vẫn chưa biết.

Một số tác giả cho rằng phải có ít nhất hai tiểu thùy bị tổn thương

mới đủ điều kiện chẩn đoán, nhưng cũng có tác giả cho rằng chỉ

cần một tiểu thùy là đủ. Sự vắng mặt hoàn toàn của lòng tuyến

không cần thiết cho chẩn đoán UTBMTTTC.

Sự mất kết dính của các tế bào là đặc tính của UTBMTTTC do

các tế bào u bị phân tách tạo ra các khoảng không giữa các tế bào,

vì thế có thể nhầm với lòng tuyến. Tuy nhiên, các tế bào u sắp xếp

không theo trật tự. Các tế bào u thường nhỏ, tròn, bào tương hẹp,

nhân trông giống nhân tế bào lành, hạt nhân mịn. Loại này có xu

hướng có ADN lưỡng bội. Một số trường hợp có thể thấy nhân đa

hình thái, các tế bào đa dạng, bào tương rộng, hạt nhân nổi rõ.

Hình ảnh tế bào học giống như ung thư biểu mô nội ống. Nhưng

lòng các ống này không có trứng cá, hình ảnh mặt sàng hoặc nhú.

Loại này gặp rất nhiều ở những u tình trạng lưỡng bội.

Hiện tượng hốc hóa trong bào tương chứa các chất tiết nhầy cũng

hay gặp trong các tế bào của UTBMTTTC. Điều này có thể phát

hiện được qua nhuộm PAS, mucicarmine hoặc Alcian. Một đặc

điểm cũng hay gặp trong loại ung thư này là hay hình thành tế

bào nhẫn là do tích lũy quá nhiều chất nhầy trong bào tương.

Những hốc nhầy trong bào tương ít gặp trong các tế bào ung thư

biểu mô ống và thực sự không có trong những tổn thương quá sản

ống hoặc biểu mô tiểu thùy. Sự có mặt chất nhẩy này là quan

trọng nhưng không phải là một tiêu chuẩn cần thiết đối với chẩn

đoán UTBMTTTC
.

Biểu hiện tổn thương của UTBMTTTC điển hình là trong các

tiểu thùy và ngoài tiểu thùy hoặc các ống tận cũng như các nang

tuyến trong các tiểu thùy. UTBMTTTC ngoài tiểu thùy chiếm 65-

75% các trường hợp. Trong những bệnh nhân sau mãn kinh, mô

vú bị teo, tổn thương ống có thể chỉ là biểu hiện của UTBMTTTC.

Hình dạng không đều của lòng những ống này giống như hình lưỡi

cưa hoặc hình gân lá. Các tế bào u có thể phân bố liên tục dọc theo

hệ thống ống, xóa dần rồi cuối cùng thay thế hoàn toàn biểu mô

bình thường lòng ống. Các đám tế bào của UTBMTTTC phát triển

xuống dưới biểu mô ống không phải u hình thành các nụ biểu mô

lồi vào mô đệm bao quanh phản chu vi ông, khi đó lớp biểu mô

tuyến lành thường vẫn còn và bị tách ra đẩy về phía lòng ống. Lớp

cơ biểu mô còn giữ lại một phần hoặc bị giãn, tách ra, cũng có thể

bị mất. Các tế bào trong UTBMTTTC có thể thấy một đám nhỏ

hoặc đứng riêng rẽ trong lớp biểu mô giống như bệnh Paget của

núm vú còn gọi là sự lan tràn dạng Paget. Quá trình này được giới

hạn ở ống thứ hai, thứ ba hoặc ống tận. Thường ít khi thấy lan

tràn giống như bệnh Paget vào biểu mô của những ống lớn hoặc

ống dẫn sữa, nhưng hiện tượng này có thể gặp ở các tiểu thùy gần

núm vú bị tổn thương. Bệnh Paget bề mặt núm vú không phải là

hình ảnh của UTBM 'TTC.

Một số tiêu chuẩn có thể coi là phù hợp trong chẩn đoán

UTBMTTTC:

Toàn bộ các tế bào trong một đơn vị tiểu thùy giống nhau, đồng

đều về kích thước. Các tế bào lấp đẩy lòng các túi tuyến hoặc các

ống tận, không có khoảng không giữa các tế bào.

- Mức độ lan rộng tổn thương phải chiếm ít nhất một nửa túi

tuyến trong một đơn vị tiểu thùy.

UTBMTTTC cũng gặp trong u xơ tuyến, bệnh tuyến vú xơ, u nhú

nội ống và tổn thương xơ sẹo. Chẩn đoán UTBMTTTC trong các

tổn thương này đòi hỏi phải xem xét hết sức cẩn thận hình ảnh tế

bào học của tổn thương. Sự có mặt của các giọt chất nhầy trong

bào tương đặc biệt giúp ích để phân biệt giữa UTBMTTTC và

bệnh tuyến vú xơ bởi vì trong các tổn thương tăng sinh lành tính

không có chất nhầy trong bào tương.

Chẩn đoán phân biệt

Một số tổn thương tăng sinh lành tính có thể nhầm với

UTBMTTTC. Quá sản cơ biểu mô trong các tiểu thùy là do sự tăng

sinh các thành phần cơ biểu mô làm thay thế các tế bào biểu mô.

Tuy nhiên, các tế bào cơ biểu mô vẫn còn nhìn rõ, bao quanh các

túi tuyến trong đơn vị tiểu thùy. Các tế bào cơ biểu mô quá sản có

đặc điểm bào tương sáng, nhân tăng sắc, nhỏ và tròn.

Trong quá sản tiểu thùy không điển hình, sự tăng sinh các tuyến

túi có một số hình ảnh vi thể như UTBMTTTC nhưng sự thay đổi

này không đủ cho chẩn đoán UTBMTTTC. Người ta cũng không có

một tiêu chuẩn nào rõ ràng để phân biệt giữa QSTTKĐH và

UTBMTTTC. QSTTKĐH có đặc điểm là sự có mặt của các tế bào

bất thường trong một tiểu thùy giống như các tế bào trong

UTBMTTTC. Trong QSTTKĐH, sự tăng sinh các tế bào thay thế

các tế bào tuyến bình thường làm xóa lòng ống nhưng không lan

vào các túi tuyến, số lượng các tế bào biểu mô thường chỉ chiếm

dưới 50% diện tích lòng tuyến túi. Ranh giới giữa các tuyến túi và

các ống trong tiểu thùy vẫn có thể nhận ra, đây là hình ảnh quan

trọng để phân biệt giữa UTBMTTTC và QSTTKĐH, đặc biệt trên

những phụ nữ tiền mãn kinh.

Nghiên cứu hóa mô miễn dịch và siêu cấu trúc

Nhuộm HMMD với collagen úp IV hoặc laminin để phát hiện

màng đáy đặc biệt trong các trường hợp phân biệt với bệnh xơ

tuyến vú. Trong bệnh xơ tuyến vú, các tế bào cơ biểu mô tăng

sinh làm bóp méo các ống tuyến hoặc làm biến dạng các đơn vị

tiểu thùy.

Nghiên cứu siêu cấu trúc thấy nguồn gốc của các tế bào

UTBMTTTC từ các tế bào biểu mô của tiểu thùy. Trong các trường

hợp điển hình có thể phát hiện thấy các vi nhú trong bào tương.

Các tế bào cơ biểu mô cũng có thể quan sát được dưới kính hiển vi

điện tử. Sự phân bố của các tế bào này lộn xộn và chúng có xu thế

trở lên ít hoặc không có trong UTBMTTTC.

Ungthu.net.vn
Xem thêm các bài có nội dung tương tự
Các bài mới hơn
Các bài đã đăng
Các tin khác
 Tin Tiêu điểm 
Đừng để ung thư vú là nỗi ám ảnh của phụ nữ
Cải thiện vòng một cho bệnh nhân ung thư vú
Bàn tay đàn ông giúp phụ nữ ngừa ung thư vú
10 cách giúp giảm nguy cơ ung thư vú
Không cho con bú làm tăng nguy cơ ung thư vú
Các loại u ở vú
Nhũ ảnh và ung thư vú
Phát hiện sớm để ngừa ung thư vú
   

Bệnh ung thư
   

Hình ảnh tiêu biểu
IMG
   


Bệnh Viện Nhân Dân 115

TRUNG TÂM UNG THƯ

ĐC: 527 Sư Vạn Hạnh P.12 Q.10 TP.HCM

ĐT: (08) 3979 7907 | Fax: (08) 3862 1499

Các bài viết trong website được rà soát, tổng hợp và biên tập bởi các y bác sỹ

Copyright © Trung Tâm Ung Thư 115

 
MED-AID CONG MINH - TuVanUngThu.com - Chung Tay Vi Cong Dong