Quá sản biểu mô tuyến vú
Trong nghiên cứu về hình thái học để xác định một phụ nữ có
nguy cơ phát triển ung thư vú xâm nhập, các nhà giải phẫu bệnh
thường quan tâm đến những tổn thương được coi là nguy cơ phát
triển ung thư vú xâm nhập sau một thời gian sau đó. Những tổn
thương này là sự tăng sinh của các tế bào biểu mô trong lòng các
ống hoặc các tiểu thùy.
Phần lớn sự tăng sinh của các tế bào biểu mô bắt nguồn từ các
đơn vị tiểu thùy hoặc các ống tận. Sự tăng sinh này được chia làm
hai nhóm chủ yếu dựa vào thành phần cấu trúc và hình thái tế
bào, chính là quá sản biểu mô ống và quá sản biểu mô tiểu thùy.
Trong hai nhóm này có thể gặp nhiều các biến thể của nó. Tuy
nhiên nếu chỉ xét riêng về tế bào học thì không đủ phân biệt hai
loại này.
Quá sản nội ống
Quá sản nội ông là biểu hiện tăng sinh các tế bào biểu mô lót
lòng ống mà vượt quá hai hàng tế bào, màng đáy còn nguyên
vẹn. Quá sản nội ống thường hay gặp kèm theo các biến đổi xơ
nang của vú. Sự thay đổi này có thể gặp ở nhiều mức độ khác
nhau từ mức độ nhẹ cho đến mức độ nặng và quá sản nội ống
không điển hình. Quá sản nội ống thường hay gặp ở các ống tận
nhưng thường lan tỏa qua các đơn vị tiểu thùy. Một số nhà giải
phẫu bệnh còn gọi quá sản nội ống là bệnh tăng sinh biểu mô
hoặc bệnh tăng sinh nhú. Thuật ngữ bệnh tăng sinh biểu mô ít
được sử dụng vì nó không phản ánh được những thông tin liên
quan đến sự phát triển ống của tổn thương. Thuật ngữ bệnh tăng
sinh nhú là một thuật ngữ không chính xác vì nó đòi hỏi phải có
những phận cấu trúc nhú.
Người ta đã công nhận rằng, sai sự tăng sinh biểu mô nội ống là
một quá trình để tiến triển thành ung thư sau đó. Sự tăng sinh
này được chia thành nhiều mức độ gồm quá sản, quá sản không
điển hình và ung thư biểu mô tại chỗ dựa vào sự kết hợp giữa hình
thái học và các yếu tố khác. Mục đích của sự phân chia này là
thiết lập một ngưỡng được coi là một tổn thương tiền ung thư.
Quá sản nội ống có thể tìm thấy trên 50% các bệnh phẩm sinh
thiết từ những phụ nữ tiền mãn kinh. Các tế bào quá sản có thể
biểu hiện ở nhiều mức độ đa hình thái khác nhau. Các tế bào có
thể đồng đều về kích thước giống như quá sản tiểu thùy, có thể chỉ
bao gồm biểu mô đơn thuần hoặc phối hợp các tế bào biểu mô với
các tế bào cơ biểu mô hoặc các tế bào chế tiết, dị sản. Số lượng các
tế bào phát triển trong lòng ống cũng rất đa dạng, từ chỗ chỉ vài
hàng tế bào cho đến lấp đầy lòng ống. Sự tăng sinh biểu mô trong
hệ thống ống có thể chỉ ở một số ống nhưng cũng có thể lan rộng
nhiều ống. Các tế bào biểu mô tăng sinh có thể biểu hiện nhiều
tầng hoặc tạo thành các mào biểu mô hoặc hình thành các cầu nơi
biểu mô, có thể đặc hoặc có các khoảng trống giữa các tế bào.
Những khoảng không trong lòng ống có thể giãn rộng tạo thành
nang/thậm chí chỉ có rất ít các mào biểu mô.
Quá sản nhẹ
Quá sản nhẹ là loại hay gặp, không có ý nghĩa trên lâm sàng mà
chỉ được xác định trên mô bệnh học. Quá sản nhẹ có thể dễ dàng
nhận thấy trên các tiêu bản đọc dưới kính hiển vi quang học
nhưng trên lâm sàng thường bỏ qua.
Quá sản nội ống nhẹ biểu hiện tăng sinh ba hoặc bốn lớp tế
bào trên màng đáy. Các đơn vị tiểu thùy bên cạnh có thể thay
đổi một chút. Tổn thương này rất ít khi tạo ra những dải tế bào
chạy qua lòng ống. Lòng ống chỉ giãn ra một chút. Các đơn vị
tiểu thùy thường vẫn giữ cấu trúc bình thường hoặc chỉ biến đổi
chút ít. Các tế bào biểu mô thường không khác biệt nhiều với các
tế bào bình thường.
Quá sản nhẹ có thể bị nhầm với mô vú bị teo, nơi mà các ống
tận hoặc các ống nhỏ tạo thành hình múi. Đôi khi những vấn
đề về mặt kỹ thuật cũng tạo ra những hình ảnh dễ nhầm với
quá sản nhẹ.
Quá sản vừa và nặng
Quá sản vừa và nặng gặp trên 20% từ các bệnh phẩm sinh thiết
vú được lấy ra do nhiều nguyên nhân. Quá sản vừa được đánh giá
là các tế bào biểu mô tăng sinh vào khoảng không của lòng ống tạo
thành các mào biểu mô hoặc bắt chéo qua lòng ống. Tổn thương
này bao gồm các tế bào giống như các tế bào thấy trong các biến
đổi biểu mô trụ của các đơn vị tiểu thùy hoặc trong quá Bản nhẹ.
Quá sản nặng là khi các tế bào biểu mô lấp đầy khoảng không
lông ống kèm theo hình ảnh tế bào học bắt đầu biến đổi không
điển hình. Trong chẩn đoán mô bệnh học, các nhà giải phẫu bệnh
không cần chú ý tách riêng hai loại này ra bởi nguy cơ trở thành
ung thư vú tại chỗ của hai loại này như nhau và thực ra cũng khó
phân biệt giữa chúng. Điều quan trọng để phân biệt quá sản nặng
với quá sản nội ống không điển hình và ung thư biểu mô tại chỗ là
dựa vào hình ảnh tế bào học. Trong quá sản nội ống, nhân tế bào
thường tròn nhưng thay đổi ở nhiều mức độ' khác nhau. Màng
nhân mỏng, đều, chất nhiễm sắc bắt màu sáng, hạt nhân nhỏ.
Hình ảnh nhân chia ít nhưng sự có mặt của nhân chia không ảnh
hưởng đến chẩn đoán xác định. Bào tương có thể toan tính hoặc
sáng màu. Đôi khi bào tương có hạt giống như những tế bào tuyến
bán hủy. Sự tăng sinh này thường tạo ra các khoảng trống giữa
các tế bào nhưng những lòng ống thứ phát thường có hình dạng và
kích thước không đều, gấp khúc, đôi khi tạo thành khe ở phần
ngoại vi. Lòng ống nguyên phát vẫn còn giữ lại một hình liềm ở
một bên của lòng ống. Những cầu nối biểu mô có thể hình thành
nhưng chúng bị căng ra với các tế bào biểu mô bị kéo dài. Những
mảnh hoại tử đôi khi cũng thấy trong lòng ống. Sự có mặt của các
khe không đều giữa các tế bào là những biểu hiện tính chất lành
tính của tổn thương. Cũng cần chú ý rằng các khoảng không này
thường là hẹp, còn khi các khoảng không giữa các tế bào lớn,
hình thành các dây tế bào bắt chéo qua lòng ống kèm theo
những biến đổi không điển hình về tế bào học thì phải nghĩ đến
ung thư biểu mô thể sàng. Về mặt hình thái, quá sản nội ống có
đặc điểm là các nhân tế bào sắp xếp về một hướng nhất định
ngược lại, trong ung thư biểu mô thể mặt sàng, nhân các tế bào'
sắp xếp theo nhiều hướng khác nhau. Quá sản nặng đôi khi làm
mất các khoảng không giữa các tế bào nhưng thường không lấp
hoàn toàn lòng ống.
Các tế bào bọt thường hay xuất hiện trong tổn thương này,
thường nằm vùng trung tâm ống. Sự xuất hiện các tế bào bọt
không được nhầm với hoại tử hoặc các khối u tiểu thùy.
Nghiên cứu đặc biệt
Nghiên cứu về hóa mô miễn dịch (HMMD) đã chỉ ra các tế bào
dương tính với cytokeratin 5/6 kết hợp với các tế bào tuyến dương
tính với cytokeratin 8/18119. Một số nghiên cứu thấy các tế bào.
biểu mô trong quá sản nội ống phản ứng với cytokeratin 18, 19'
cũng như các cytokeratin trọng lượng phân tử cao 34-1312. Hơn.
nữa, nhuộm HMMD thấy các tế bào phản ứng với ER, PR và bcl'2.
protein nhưng nồng độ thấp hơn trong quá sản nội ông không điểm
hình hoặc ung thư biểu mô nội ống. Bộc lộ p-53 và c-erbB-2 cũng ít.
thấy trong quá sản nội ống.
Sự thay đổi của đen ở một dạng không bền vững và mất tính dị
hợp tử cũng tìm thấy trên 40% các tổn thương quá sản nội ống.
Người ta cũng tìm thuý không có đột biến trên tại exon 4-8 của đen
p53. Những nghiên cứu sau này cũng kết luận rằng không có một
liên quan phụ thuộc giữa sự thay đổi đen và biến đổi ác tính sau
đó Tuy nhiên, người ta cũng tìm thấy sự thay đổi về mặt cấu trúc
của nhiễm sắc thể 1 và 5.
Quá sản nội ống không d én hình (QSNOKĐH)
Trong số rất nhiều yếu tố nguy cơ về hình thái liên quan đến ung
thư vú sau đó, QSNOKĐH được coi là yếu tố nguy cơ cao nhất.
QSNOKĐH nhiều khi rất khó phân biệt với ung thư biểu mô nội
ống độ ác tính thấp, đặc biệt thể không có trứng cá bởi tiêu chuẩn
không rõ ràng, hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan của các
nhà giải phẫu bệnh.
Ngày nay, bằng việc áp dụng chụp vú mở rộng người ta đã tìm
thấy 25c/o phụ nữ được làm sinh thiết có quá sản nội ống, 2-5% có
QSNOKĐH. Những sự biến đổi này còn thấy nhiều hơn trên các
sinh thiết được làm trên các tổn thương nghi ngờ qua chụp vú.
Trong một số nghiên cứu, chỉ có 2,1% có QSNOKĐH được sinh
thiết trước khi chụp vú, trong khi đó tỷ lệ này là 10% trong số
những phụ nữ đã được khám sàng lọc bằng chụp vú. Tại Viện
bệnh học quân đội Mỹ, QSNOKĐH chiếm khoảng 6% những tổn
thương nội ống năm 1970, tỷ lệ này là 17% năm 1990 trong khi đó
tỷ lệ quá sản nội ống không tăng đáng kể: 22% năm 1970 và 28%
năm 1990.
Cách đây hai thập kỷ, Black và Cha bon đã định nghĩa
QSNOKĐH là sự tăng sinh nhiều hàng tế bào với sự sắp xếp mất
cực tính, nhân lớn, hạt nhân rõ. Các tế bào có đường viền không
đều, ranh giới giữa các tế bào khó phân biệt vì bị chồng chéo lên
nhau. Nhân tế bào không đều, đa dạng, đường viền tròn. Màng
nhân mỏng, chất nhiễm sắc bắt màu nhạt, hạt nhân nhỏ.
Có thể tóm tắt hình ảnh vi thể của QSNOKĐH dựa vào hình ảnh
tế bào học và cấu trúc sau:
Hình ảnh tế bào học:
- Các tế bào tròn, đều, đơn dạng.
- Tỷ lệ nhânjnguyên sinh chất tăng.
- Phân bố nhân có trật tự, cách xa nhau hoặc hình hoa hồng.
Nhân tròn.
- Tăng sắc có thể có hoặc không.
C ấu trúc :
- Loạn: Giống bất kỳ phần nào của quá sản nội ống.
- Loại 2: Có thể dạng mặt sàng, vi nhú, dạng nhú hoặc các tế bào
hình thoi nhiều tầng, có thể biểu hiện một ống hoặc nhiều ống.
Chẩn đoán phân biệt
- Ung thư biểu mô nội ống (UTBMNO)
QSNOKĐH là một vấn đề rất nhạy cảm trong chẩn đoán mô
bệnh học vì sự thay đổi về tế bào học và cấu trúc của nó có thể
nhảm với UTBMNO. Chẩn đoán QSNOKĐH hoàn toàn dựa vào
kinh nghiệm của các nhà giải phẫu bệnh ngoại khoa khi họ cho
rằng tiêu chuẩn cho UTBMNO chưa thực sự đầy đủ. Chẩn đoán
phân biệt với ƯTBMNO đôi khi rất khó đặc biệt thể biệt hóa cao
và không có trứng cá. Tính chất không điển hình cũng có thể
thấy trong quá sản nặng. Mức độ các tế bào lấp đầy lòng ống
dường như không thích hợp trong chẩn đoán phân biệt giữa
QSNOKĐH và UTBMNO. Hình ảnh có lẽ là quan trọng nhất để
phân biệt hai loại này đó là trong QSNOKĐH nhân tế bào không
đều khe giữa các tế bào và ranh giới giữa chúng không đều, tính
chất không điển hình của nhân ở mức độ nhẹ.
Trong một số trường hợp, các nghiên cứu đặc biệt có thể giúp ích
phân biệt QSNOKĐH và UTBMNO. Hiện tượng lệch bội lẻ hay
gặp trong UTBMNO hơn là trong QSNOKĐH. Những hình ảnh
này liên quan đến hình ảnh không biệt hóa về tế bào và cấu trúc.
Tuy nhiên, mức bội thể không cho phép phân biệt hai tổn thương
này trên một trường hợp. Nhuộm HMMD với cytokeratin trọng
lượng phân tử cao thấy phản ứng dương tính trong phần lớn các
trường hợp QSNOKĐH còn trong UTBMNO thì không. Sự có mặt
của các tế bào cơ biểu mô cũng được khẳng định bằng nhuộm
HMMD. Các tế bào cơ biểu mô quanh các ống có mặt nhiều trong
quá sản còn trong ung thư thì có ít hơn.
Bệnh tăng sinh nhú ở nguờlâ trẻ
Thuật ngữ này được Rosen đề xuất vào năm 1980. Biểu hiện lâm
sàng thường là cục khu trú hoặc nhiều ổ ở vú. Bệnh nhân trẻ, tuổi
trung bình là 20, có thể có tiền sử gia đình bị ung thư vú hoặc có
những yếu tố nguy cơ ung thư vú. Hình ảnh vi thể gồm nhiều
nang trong đó có biểu hiện quá sản của biểu mô trên các nhú,
thường là quá sản mức độ nặng kèm theo hiện tượng xơ hóa, tăng
sinh cơ biểu mô hoặc biến đổi tuyến bán huỷ tạo ra một hình ảnh
mô bệnh học phức tạp. Mỗi một nhú đều có thành phần biểu mô,
cơ biểu mô và được nâng đỡ bởi trục liên kết xơ-huyết quản. Quá
sản biểu mô có thể tạo ra các dải tế bào ngăn cách bởi các khoảng
không giống hình ảnh QSOKĐH (quá sản ống không điển hình)
hoặc QSNOKĐH. Sự tăng sinh tế bào hình thoi nhiều tầng thường
kèm theo mất thành phần cơ biểu mô.
Quá sản tiểu thùy không đến hình (QSTTKĐH)
Là sự tăng sinh các tế bào biểu mô trong các tiểu thùy thay thế
các tế bào biểu mô bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn cho
chẩn đoán ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ (UTBMTTTC).
Hình ảnh vi thể thường biểu hiện tăng sinh tế bào biểu mô lấp
đầy dưới 1/2 lòng các túi tuyến, mất sự kết dính. Các tế bào biểu
mô trong các đơn vị tiểu thùy thường nhỏ, đều. Nhân tròn, bắt
màu nhạt, hạt nhân nhỏ, mịn. Bào tương thường có hốc sáng, nếu
nhuộm đặc biệt có thể phát hiện ra chất nhầy. Mặc dù sự tăng
sinh số lượng tế bào làm cho các túi tuyến bị giãn rộng nhưng
ranh giới ( giữa các túi và các ống trong đơn vị tiểu thùy vẫn còn
giữ Hình ảnh tế bào học không khác biệt nhiều UTBMTTTC.
Xem tiếp bài sau